
| Ngày ban hành: 1/6/2026 | Ngày hiệu lực: 1/6/2026 |
BÁO CÁO TỔNG KẾT CHUYÊN MÔN NĂM HỌC 2025-2026.PDF
| UBND PHƯỜNG KINH MÔN TRƯỜNG THCS HIỆP AN
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 75/BC-THCSHA Kinh Môn, ngày 21 tháng 5 năm 2026
BÁO CÁO
Tổng kết công tác chuyên môn năm học 2025-2026
Căn cứ công văn số 4555/BGDĐT-GDTrH ngày 05 tháng 08 năm 20245 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2025-2026
Căn cứ Quyết định số 3348/QĐ-UBND ngày 19 tháng 08 năm 2025 của UBND Thành phố Hải Phòng về việc ban hành kế hoạch thời gian năm học 2025-2026 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn thành phố;
Căn cứ Công văn số 5775/SGDĐT-TrH ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hải Phòng về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2025 - 2026;
Thực hiện Kế hoạch nhiệm vụ năm học 2025-2026 của trường THCS Hiệp An.
Bộ phận chuyên môn của nhà trường báo cáo công tác chuyên môn năm học 2025-2026 như sau:
I. Đánh giá công tác hoạt động chuyên môn trong năm học 2024-2025
1. Công tác xây dựng kế hoạch
- Chỉ đạo giáo viên bộ môn xây dựng kế hoạch chương trình 35 tuần thực học năm học 2025-2026 ngay từ đầu năm học nghiêm túc, đúng quy định theo Hướng dẫn số 5775/HD-SGDĐT ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) thành phố Hải Phòng về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2025-2026.
- Kế hoạch được xây dựng bám sát khung thời gian năm học theo Quyết định số 3348/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND Thành phố Hải Phòng, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế về đội ngũ (100% giáo viên đạt chuẩn trình độ Đại học) và cơ sở vật chất (hệ thống 15 phòng học, phòng bộ môn và hạ tầng Internet cáp quang đồng bộ).
- Thực hiện hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực và ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, đặc biệt là tích hợp các công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI) vào thiết kế bài dạy, xây dựng kho học liệu số và đổi mới kiểm tra đánh giá nhằm phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực học sinh theo Chương trình GDPT 2018.
2. Công tác hoạt động chuyên môn
2.1. Thực hiện kỉ cương nề nếp chuyên môn
- Giáo viên nhìn chung thực hiện tốt kỉ luật lao động, nề nếp quy định về chuyên môn của ngành và nhà trường. Đã triển khai và sử dụng hiệu quả 100% hồ sơ điện tử, sổ điểm điện tử và ứng dụng thành thạo chữ ký số trong quản lý hồ sơ.
- Tồn tại:
+ Tình trạng giáo viên ra vào lớp chưa đảm bảo đúng thời gian quy định vẫn còn xảy ra rải rác.
+ Trong giờ học, một vài giáo viên chưa quản lý lớp chặt chẽ, còn để xảy ra tình trạng lớp học mất trật tự, học sinh ngủ gật hoặc chưa tập trung vào bài giảng; còn hiện tượng làm việc riêng trong giờ lên lớp.
+ Việc cập nhật điểm số, ghi nhận nhận xét và đánh giá xếp loại học sinh trên hệ thống phần mềm đôi lúc còn chậm so với lịch trình quy định; sổ ghi đầu bài tại một số lớp còn tình trạng tẩy xóa hoặc ghi thiếu nội dung.
2.2. Thực hiện chương trình
-100% giáo viên thực hiện đúng kế hoạch dạy học và giáo dục đã xây dựng trong năm học 2025-2026 theo hướng dẫn tại Công văn số 4324/BGDĐT-GDTrH ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2025-2026 và Hướng dẫn số 5775/HD-SGDĐT ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Sở GDĐT thành phố Hải Phòng.
- Nhà trường thực hiện nghiêm túc khung kế hoạch thời gian năm học theo Quyết định số 3348/QĐ-UBND của UBND thành phố Hải Phòng.
- Các tổ chuyên môn đã chủ động xây dựng tiến trình bài dạy theo hướng phát triển năng lực, tích hợp bài giảng công nghệ hiện đại và triển khai thành công các chuyên đề ứng dụng AI vào giảng dạy theo đúng định hướng đổi mới của ngành trong năm học này.
2.3. Công tác soạn, giảng
- 100% giáo viên soạn bài trên máy vi tính, sử dụng giáo án điện tử và thực hiện quy trình ký duyệt qua phần mềm chữ ký số đúng thời gian quy định trước khi lên lớp ít nhất 03 ngày.
- Đa số kế hoạch bài dạy đảm bảo yêu cầu giảng dạy chính khóa, được thiết kế theo hướng phát triển năng lực học sinh. Nhiều giáo án soạn chi tiết, hệ thống câu hỏi phân hóa tốt và tích hợp hiệu quả các công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI) vào thiết kế hoạt động học tập.
- Tiêu biểu là các đồng chí thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp và ứng dụng công nghệ: Nguyễn Thị Hạnh, Trần Thanh Tâm, Nguyễn Như Quỳnh, Nguyễn Thị Hảo, Hoàng Thị Mơ, Hoàng Thị Thanh Huyền, Trịnh Thị Nguyệt....
- Đa số giáo viên thực hiện tốt công tác giảng bài trên lớp: đảm bảo đúng thời lượng 45 phút, tổ chức lớp học linh hoạt, tăng cường đổi mới phương pháp thông qua các chuyên đề STEM "Số hóa tương lai" và các tiết dạy thực nghiệm về năng lực số.
- Giáo viên đã chú trọng liên hệ nội dung kiến thức bài học với thực tế, hướng dẫn học sinh khai thác học liệu số và các ứng dụng AI trong học tập để phát triển phẩm chất, năng lực.
* Tồn tại:
- Một vài tiết dạy đại trà giáo viên chưa quản lý lớp chặt chẽ, chưa thực sự chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy, còn để xảy ra tình trạng lớp học mất trật tự, học sinh ngủ gật hoặc chưa tập trung vào bài giảng.
- Vẫn còn hiện tượng giáo viên chưa chú tâm hoàn toàn vào việc giảng dạy, còn làm việc riêng trong giờ lên lớp hoặc thời gian giao bài để học sinh tự học kéo dài làm giảm chất lượng giờ dạy.
- Một số giáo viên còn hạn chế về kỹ năng công nghệ dẫn đến việc cập nhật dữ liệu, gửi kế hoạch bài dạy lên phần mềm chữ ký số đôi lúc còn chậm, muộn so với lịch trình quy định của nhà trường.
- Hồ sơ chuyên môn của một số giáo viên, đặc biệt là sổ ghi đầu bài tại các lớp, vẫn còn tình trạng tẩy xóa hoặc ghi thiếu nội dung theo quy định (đã được nhắc nhở qua các đợt kiểm tra nội bộ)
2.4. Sử dụng đồ dùng dạy học
- Công tác thư viện: Thực hiện lịch trực và phục vụ theo đúng quy định của nhà trường. Nhân viên thư viện đã tích cực đổi mới phương thức tuyên truyền, giới thiệu sách bằng việc xây dựng và ứng dụng các video học liệu số, thu hút đông đảo học sinh mượn sách và tra cứu.
- Quản lý thiết bị: Nhân viên phụ trách TBDH thực hiện đúng quy trình, cập nhật hồ sơ mượn – trả đầy đủ trên hệ thống quản lý số.
- Sử dụng thiết bị dạy học: Đa số giáo viên thực hiện sử dụng TBDH thường xuyên, hiệu quả theo đặc thù môn học, đặc biệt là các môn: Khoa học tự nhiên (Lý, Hóa, Sinh), Lịch sử và Địa lý, Công nghệ....
- Ứng dụng công nghệ: Nhà trường đã khai thác tối đa công suất của 06 phòng bộ môn. Đặc biệt, phòng Tin học đã được đầu tư mới 25 máy tính chất lượng cao, phục vụ tốt cho việc dạy học năng lực số và các chuyên đề STEM.
- Hạ tầng số: Hệ thống Internet cáp quang tốc độ cao và truyền hình FPT được trang bị đến từng phòng học, hỗ trợ giáo viên khai thác tối ưu kho học liệu số của Thành phố và các bài giảng tích hợp AI.
* Tồn tại:
- Nhiều trang thiết bị dạy học qua thời gian dài sử dụng đã xuống cấp, hư hỏng cần thanh lý hoặc thay thế.
- Thiết bị phục vụ riêng cho chương trình GDPT 2018 vẫn còn thiếu, giáo viên chủ yếu phải tận dụng, cải tiến các đồ dùng cũ hoặc tự làm đồ dùng dạy học để phù hợp với chương trình mới.
- Việc sắp xếp, vệ sinh tại một số phòng học bộ môn và kho chứa TBDH đôi lúc chưa được thực hiện thường xuyên, chưa đảm bảo tính khoa học và ngăn nắp tuyệt đối.
- Nguồn kinh phí tự chủ của nhà trường còn hạn chế nên việc bổ sung, tái đầu tư đồng bộ cho hệ thống thiết bị dạy học trực quan gặp nhiều trở ngại.
2.5. Thực hiện chế độ kiểm tra, chấm trả bài
- Chỉ đạo 02 tổ chuyên môn thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, đánh giá học sinh theo Thông tư số 22/2021/TT-BGDĐT ngày 20/7/2021 của Bộ trưởng Bộ GDĐT. Nhà trường đã xây dựng ma trận, đặc tả đề kiểm tra bám sát yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT 2018, đảm bảo tính khách quan và công bằng.
- Đối với các môn học và hoạt động giáo dục tích hợp (KHTN, LS&ĐL, Nghệ thuật, HĐTN-HN, GDĐP): Các nhóm chuyên môn đã bàn bạc, thống nhất việc ra đề, phân công chấm bài, vào điểm và nhận xét định kỳ theo đúng quy trình, có biên bản lưu trữ cụ thể.
- Điểm mới nổi bật trong năm học này là việc ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) vào xây dựng ngân hàng đề thi và cấu trúc lại đề kiểm tra môn KHTN lớp 9 theo định dạng trắc nghiệm khách quan để học sinh làm quen với phương thức thi mới của Sở GDĐT thành phố Hải Phòng.
- Các giáo viên thực hiện nghiêm túc kế hoạch kiểm tra, chấm trả bài đúng quy chế; 100% điểm số và nhận xét được cập nhật trên phần mềm quản lý điểm điện tử và thực hiện ký số hồ sơ đúng thời hạn.
* Tồn tại:
- Việc cập nhật điểm số, ghi nhận nhận xét và đánh giá xếp loại rèn luyện cho học sinh trên hệ thống phần mềm của một vài giáo viên đôi khi còn chậm so với lịch trình quy định, dẫn đến việc tổng hợp báo cáo của nhà trường còn bị dồn ép vào cuối kỳ.
- Vẫn còn hiện tượng thiếu trung thực trong thi cử ở một bộ phận học sinh (quay cóp bài, coi bài nhau); cá biệt có trường hợp học sinh mang điện thoại vào phòng thi khảo sát đã được nhà trường lập biên bản xử lý.
- Kết quả khảo sát các môn trọng tâm (Toán, Tiếng Anh) của khối 9 còn thấp, phản ánh kỹ năng làm bài và trình bày của học sinh còn nhiều hạn chế, cần có giải pháp khắc phục trong công tác phụ đạo.
2.6. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh dự thi Olympic, phụ đạo học sinh yếu và dạy thêm học thêm
a. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi và giao lưu Olympic:
- Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi và Olympic các khối 6, 7, 8 được nhà trường triển khai nghiêm túc ngay từ đầu năm học theo kế hoạch chuyên môn.
- Đội ngũ giáo viên được phân công giảng dạy (như đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Trần Thanh Tâm, Nguyễn Như Quỳnh...) đều thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình, chủ động ứng dụng công nghệ số và học liệu trực tuyến vào quá trình bồi dưỡng.
- Kết quả đạt được:
+ Cấp Thành phố: Đạt 02 giải trong kỳ thi Toán và Khoa học Tự nhiên bằng Tiếng Anh (01 giải Nhì môn KHTN 1; 01 giải Ba môn KHTN 2).
+ Giao lưu Olympic khối 6, 7, 8 cấp phường: Đạt tổng cộng 28 giải. Trong đó bao gồm: 02 giải Nhì, 11 giải Ba và 15 giải Khuyến khích. Tuy nhiên, kết quả này vẫn chưa đạt được giải Nhất đột phá theo kỳ vọng.
- Phong trào Thể dục thể thao cấp phường:
+ Đội tuyển Cờ vua: Đạt 11 giải (02 giải Nhất, 01 giải Ba, 08 giải Khuyến khích).
+ Đội tuyển Điền kinh: Đạt 11 giải (02 giải Nhất, 03 giải Nhì, 06 giải Ba).
b. Công tác phụ đạo học sinh yếu:
- Công tác phụ đạo học sinh chưa đạt từ khối 6 đến khối 9 được nhà trường đặc biệt chú trọng và tiến hành đúng theo kế hoạch chuyên môn số 24/KH-THCSHA ngày 07/02/2026.
- Đối tượng bồi dưỡng: Tập trung giải quyết thực chất tình trạng của 33 học sinh có kết quả tổng kết Học kỳ I ở mức "Chưa đạt". Mục tiêu cốt lõi là giúp các em bù lấp lỗ hổng kiến thức, rèn luyện kỹ năng cơ bản để đạt chuẩn khi kết thúc năm học.
- Hình thức tổ chức:
+ Nhà trường tổ chức học trực tiếp tại trường vào các buổi chiều theo thời khóa biểu riêng.
+ Giáo viên giảng dạy các môn trọng tâm như Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh thực hiện phụ đạo trái buổi. Các môn học khác kết hợp việc hỗ trợ học sinh yếu ngay trong các giờ học chính khóa thông qua phương pháp dạy học cá thể hóa.
+ Đặc biệt, nhà trường vận động giáo viên giảng dạy trên tinh thần tự nguyện và không thu học phí theo đúng quy định tại Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT.
- Thời gian thực hiện: Chia làm 02 đợt trọng điểm (Đợt 1 vào tuần 24, 25; Đợt 2 vào tuần 30, 31) với thời lượng 6 tiết/tuần để ôn tập hệ thống kiến thức và rèn kỹ năng làm bài thi cuối năm.
- Quản lý chuyên môn:
+ Trường chỉ đạo giáo viên xây dựng nội dung bài dạy và đề cương ôn tập riêng cho đối tượng này, được Tổ chuyên môn và Ban Giám hiệu ký duyệt trước khi triển khai.
+ Giáo viên có sổ nhật ký theo dõi chuyên cần, chấm và sửa lỗi cẩn thận cho từng học sinh.
+ Sự phối hợp giữa Giáo viên chủ nhiệm và Cha mẹ học sinh được duy trì chặt chẽ để đôn đốc các em đi học đầy đủ.
- Kết quả: Nhờ sự tận tình của đội ngũ giáo viên và nỗ lực của học sinh, tỷ lệ học tập "Chưa đạt" toàn trường cuối năm đã giảm mạnh, chỉ còn 1,47% (tương đương 09 em), hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu cải thiện chất lượng giáo dục đại trà.
c. Công tác dạy thêm học thêm:
- Nhà trường thực hiện nghiêm túc và đúng quy định của Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT ngày 30/12/2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về dạy thêm, học thêm.
- Trong năm học này, nhà trường không tổ chức dạy thêm đối với các khối lớp 6, 7 và 8 dưới mọi hình thức. Nhà trường chỉ tập trung chỉ đạo giáo viên tổ chức dạy ôn thi vào lớp 10 THPT cho đối tượng học sinh khối lớp 9 với các môn trọng tâm: Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh.
- Việc tổ chức ôn tập cho khối 9 được thực hiện trên tinh thần tự nguyện của học sinh và sự đồng thuận của cha mẹ học sinh ngay từ đầu năm học.
- Thời lượng ôn tập được bố trí khoa học (02 tiết/buổi/tuần) và thực hiện hoàn toàn miễn phí nhằm hỗ trợ học sinh cuối cấp bù lấp lỗ hổng kiến thức và rèn luyện kỹ năng làm bài thi.
- Các tổ chuyên môn (KHXH và KHTN) đã chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch bài dạy ôn tập bám sát cấu trúc đề thi mới của Sở GD&ĐT Hải Phòng và được Ban giám hiệu phê duyệt trước khi triển khai.
* Tồn tại, hạn chế:
- Một số giáo viên chưa thực sự chủ động tìm tòi phương pháp ôn luyện mới để thích ứng với định dạng đề thi trắc nghiệm (như môn KHTN 9), dẫn đến sự tiến bộ của một bộ phận học sinh chưa rõ rệt.
- Công tác phụ đạo học sinh chưa đạt đôi khi còn thụ động; một số học sinh ý thức tự học tại nhà chưa cao nên kết quả khảo sát định kỳ môn Toán và Tiếng Anh còn ở mức báo động.
2.7. Ứng dụng CNTT vào giảng dạy
- 100% giáo viên đã chủ động và tích cực ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào giảng dạy hàng ngày, bước đầu mang lại hiệu quả trong việc truyền tải kiến thức.
- Nhà trường đã tiên phong tập huấn và khuyến khích giáo viên tích hợp các công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI) để thiết kế bài giảng sinh động, xây dựng ma trận đề kiểm tra và tổ chức các hoạt động học tập tương tác.
- Ứng dụng công nghệ số được thể hiện rõ nét qua chuyên đề lớn "STEM cho em - Số hóa tương lai", các buổi sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học và hội giảng cấp trường cũng nh tham gia thi GVG cấp phường và cấp thành phố
- Hệ thống Internet cáp quang tốc độ cao và truyền hình FPT được trang bị đồng bộ đến 100% lớp học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học hiện đại.
* Tồn tại, hạn chế:
- Về xây dựng học liệu số: Công tác xây dựng bài giảng điện tử (E-learning) còn rất hạn chế và chưa đạt chỉ tiêu đề ra. Toàn trường mới chỉ có 08 bài giảng chất lượng được gửi lên kho học liệu số dùng chung của Sở GD&ĐT Hải Phòng (Tổ KHXH: 05 bài; Tổ KHTN: 03 bài), con số này còn quá khiêm tốn so với tiềm năng của đội ngũ.
- Dù hạ tầng mạng đã được nâng cấp, nhưng đôi lúc đường truyền Internet vẫn gặp tình trạng quá tải cục bộ khi nhiều phòng học cùng truy cập các ứng dụng AI cùng lúc.
- Kỹ năng ứng dụng công nghệ số và các công cụ AI mới của một bộ phận giáo viên còn chậm, dẫn đến việc thiết kế bài giảng đôi khi còn dập khuôn, chưa phát huy hết tính sáng tạo của phần mềm hỗ trợ.
- Việc quản lý học sinh sử dụng thiết bị điện tử trong giờ học đôi khi chưa chặt chẽ, dẫn tới tình trạng học sinh sử dụng điện thoại vào mục đích riêng trong phòng thi khảo sát.
2.8. Công tác dự giờ thăm lớp
- Nhìn chung, các đồng chí giáo viên trong cả hai tổ chuyên môn đều có ý thức tham gia dự giờ thăm lớp để trao đổi kinh nghiệm và nâng cao trình độ chuyên môn.
- Đa số giáo viên đảm bảo đủ số tiết dự giờ theo quy định của ngành và nhà trường.
- Nội dung các tiết dự giờ đều có nhận xét, đánh giá, cho điểm và xếp loại cụ thể theo đúng các tiêu chí hướng dẫn của bộ môn.
- Đặc biệt, công tác dự giờ được thực hiện nền nếp và đạt hiệu quả cao trong các đợt Hội giảng chào mừng ngày 20/11, 26/3 và các đợt thi Giáo viên dạy giỏi cấp phường, cấp Thành phố.
* Tồn tại:
- Việc tham gia dự giờ thường xuyên của một số đồng chí giáo viên còn hạn chế, chủ yếu chỉ tập trung vào các đợt cao điểm như hội giảng hoặc khi có lịch kiểm tra chuyên đề.
- Công tác góp ý, nhận xét sau giờ dạy ở một vài nhóm chuyên môn đôi lúc còn mang tính hình thức, nể nang, chưa thẳng thắn chỉ ra những tồn tại về phương pháp để đồng nghiệp rút kinh nghiệm.
- Chất lượng sinh hoạt chuyên môn sau dự giờ ở một số tiết dạy đại trà còn chưa sâu sắc, chưa thực sự phát huy được tinh thần "Nghiên cứu bài học" để cùng thảo luận về các biện pháp khắc phục tình trạng học sinh mất trật tự hoặc chưa tập trung trong giờ học.
- Một số giáo viên chưa chú trọng dự giờ các tiết dạy có ứng dụng công nghệ mới hoặc AI của đồng nghiệp để học hỏi và cập nhật kỹ năng cho bản thân.
2.9. Công tác hội giảng, chuyên đề, ngoại khóa, NCBH, thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp phường và cấp thành phố; viết sáng kiến, sinh hoạt tổ chuyên môn
- Chỉ đạo hai tổ chuyên môn thực hiện nghiêm túc việc xây dựng và dạy học theo chủ đề, nghiên cứu bài học (NCBH), sinh hoạt chuyên môn theo chuyên đề, bám sát kế hoạch năm học đã xây dựng.
- Thực hiện 02 đợt hội giảng chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2025 và ngày thành lập Đoàn 26/3/2026 với 100% tiết dạy đạt loại Giỏi. Tổ chức thành công hội thi GVG cấp trường trong học kỳ I.
- Kết quả cụ thể: Thực hiện 04 chuyên đề cấp trường có tính ứng dụng thực tiễn cao:
+ Tổ KHXH: Chuyên đề 1: Ứng dụng AI trong hoạt động dạy đọc hiểu văn bản truyện (GV Nguyễn Thị Hào thực hiện ở môn Ngữ văn 7). Nội dung bám sát đổi mới chương trình, giúp học sinh phát triển năng lực số. Kết quả: Tốt; Chuyên đề 2: Nâng cao năng lực giao tiếp tiếng Anh thông qua các trò chơi ngôn ngữ (GV Nguyễn Như Quỳnh thực hiện). Kết quả: Tốt.
+ Tổ KHTN: Chuyên đề 1: Ứng dụng AI vào dạy học môn Khoa học tự nhiên (GV Nguyễn Thị Hạnh thực hiện ở khối 9). Kết quả: Tốt; Chuyên đề 2: Ứng dụng AI vào xây dựng đề kiểm tra đánh giá (GV Trần Thanh Tâm thực hiện ở môn Toán 9). Kết quả: Tốt.
- Thực hiện 04 tiết dạy theo hướng Nghiên cứu bài học:
+ Môn Toán: Chuyên đề dạy học tích cực. Thực hiện tháng 10/2025.
+ Môn KHTN: Xây dựng ma trận đặc tả đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan khối 9. Thực hiện tháng 02/2026.
+ Môn Tiếng Anh: Kỹ năng thuyết trình bằng tiếng Anh. Thực hiện tháng 10/2025.
+ Môn Ngữ văn: Kỹ năng tạo lập văn bản nghị luận xã hội. Thực hiện tháng 02/2026.
- Công tác thi Giáo viên dạy giỏi cấp trường:
+ Cấp trường: Nhà trường đã tổ chức thành công Hội thi Giáo viên dạy giỏi cấp trường ngay trong học kỳ I (tháng 11/2025) gắn liền với đợt Hội giảng chào mừng ngày
Tin cùng chuyên mục